Trong bộ phim “Last Tango in Florence”, khi chơi piano, có một chàng trai mới 17 tuổi, tên là Gerardo, viết nên một nhạc khúc, rồi bán tác quyền với giá 20 peso cho nhà phát hành Breyerb. Rẻ quá! Vì bảy năm sau, Gerardo mới biết là nhạc khúc đó đã trở nên nổi tiếng sau khi được sửa lại và viết thêm lời, nhưng anh khó đòi lại được tác quyền. “La Cumparsita” qua giọng hát nồng nàn của Julio Iglesias, nam danh ca kỳ cựu của châu Mỹ La Tinh, diễn tả cảnh u sầu khi người yêu đã ra đi Đó là bài Tango nổi tiếng nhất. Và dù người ta biết đến Tango qua những buổi dạ hội của xã hội thượng lưu Paris, với những quí bà trong các bộ áo dài dạ hội lấp lánh và những quí ông trong các bộ ximốckinh và áo đuôi tôm, điệu Tango lại bắt nguồn từ một tầng lớp thấp hơn trong xã hội – đó là những khu nhà chứa ở Argentina vào đầu thế kỷ XX khi những người di cư từ châu Âu, châu Phi …. đổ về khu ngoại ô Buenos Aires. Từ đây, sự hòa trộn các nền văn hóa đã làm nảy sinh ra âm nhạc. Cái thứ âm nhạc mà theo Gerado, hứa hẹn không cản trở người sáng tác. Nhưng khi những nhà soạn nhạc Pháp hay Tây Ban Nha viết nên những bản tango đầy kì công, họ cảm thấy sững sờ vì người nghe dường như không nhận ra được nó. Nói như Jorge Luis Borges, nhà văn vĩ đại nhất của Argentina, cách đây một nửa thế kỉ,”dường như âm nhạc làm ta nhớ về một quá khứ mà ta chưa từng biết tới, khiến ta cảm thấy xót xa trước những nỗi bất hạnh chưa từng gặp, những lỗi lầm chưa trải qua”. Phải chăng sứ mệnh của tango là đem đến cho những người Argentina niềm tin về một quá khứ huy hoàng?
Quá khứ đó là Buenos Aires: Thủ đô và thành phố cảng lớn nhất Argentina. Chịu ảnh hưởng mạnh của văn hóa châu Âu, Buenos Aires được mệnh danh là “Paris của Nam Mỹ”, nổi tiếng với nhiều phong cách kiến trúc độc đáo, cuộc sống về đêm và các hoạt động văn hóa. Ẩn trong vóc dáng u sầu của hải cảng Buenos Aires là một sức hút vĩ đại. Xây từ năm 1533, đây từng là hải cảng quan trọng nhất của Tây Ban Nha trên đường sang Tân Thế Giới. Hàng hóa từ mẫu quốc được tập trung về đây để chuyển đến các thuộc địa Nam Mỹ. Ngược lại, những báu vật, nhất là vàng bạc ở Peru cũng được tập kết về đây để vượt biển Caribe trở về châu Âu. Chứa đầy lương thực và châu báu, Buenos Aires là một sự cám dỗ kinh khủng đối với cả bọn hải tặc và những thế lực ngoại xâm suổt từ thế kỷ 16 đến 18. Năm 1586, tên cướp biển khét tiếng Francis Drake đã từng tấn công và biến cả thành phố thành con tin để đòi một món tiền chuộc khổng lồ. Năm 1741, Edward Vernon, người mà sau này đã được lấy tên để đặt cho Mount Vernon, quê hương của George Washington _ cũng nhăm nhe biến hải cảng này thành của riêng cho vương quốc Anh. Nếu không vấp phải bùn lầy và sự kháng cự quyết liệt của lực lượng nông dân Argentina, rất có thể toàn bộ Nam Mỹ bây giờ đã nói tiếng Anh hết cả rồi. Năm 1787, một trùm cướp biển khác, Charles Wager, đã dẫn 4 chiến tầu săn đuổi một đoàn thuyền chở đầy châu báu từ Buenos về Tây Ban Nha. Trận thủy chiến diễn ra trong bóng đêm, Wager đã bắn chìm San Jose, chiến thuyền lớn nhất Tây Ban Nha lúc bấy giờ. “Huyền thoại của đại dương” chìm nghỉm mang theo một kho báu mà giá trị hiện tại ước tính khoảng 3 tỷ $. Trong cuộc chiến thảm khốc này, không nhiều hơn 17 người được cứu sống trong số bẩy, tám trăm người. Đến giờ, kho báu San Jose vẫn chỉ được tìm thấy trong..huyền thoại và văn chương. Một cậu bé thợ lặn 12 tuổi tên là Euclide nói rằng cậu đã nhìn thấy chiếc thuyền nằm giữa những rặng san hô ở độ sâu trên 200 m cách cảng Buenos chừng 50 km. “ Mọi thứ vẫn còn rất tốt…Những cánh buồm còn nguyên vẹn cứ như thể chúng chìm xuống trong không gian và thời gian của riêng chúng…” Chú bé Euclide, người nhận ra San Jose qua những chữ cái mạ vàng ở phần đuôi tầu, kể lại. Tiếc rằng Euclide chỉ là một nhân vật hư cấu trong tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả của Gabriel Marquez, nhà văn đoạt giải Nobel văn học này từng làm phóng viên ở Buenos cuối những năm 1940. Phải chăng thành phố này đã cho ông vốn sống để viết lên những kiệt tác của chủ nghĩa hiện thực huyền ảo.
Gần 300 năm đã đi qua. Nhưng những người sống bên các bức tường cổ xưa và cũ kỹ ở Buenos vẫn chờ đợi cái giờ khắc huyền bí đang tới, vào mỗi buổi chiều, nói như nhà thơ Guillerno Valencia. Cuộc di cư ồ ạt của cả những người châu Phi và châu Âu tới Argentina đã ảnh hưởng nhiều đến Tango, cả âm nhạc và điệu nhảy. Giữa những năm 1911 và 1913 dân số Buenos Aires đã gia tăng từ 2 đến 8 triệu người. Tỷ lệ đàn ông/đàn bà là 10/1. Cơ cấu kinh tế dịch chuyển khốc liệt trong thời kỳ tích lũy tư bản đầy máu và nước mắt, khiến lực lượng lao động chính, những người dân di cư, nông dân đều phải phiêu dạt kiếm sống tại các thành phố lớn của Áchentina. Với họ ngoài sự nhọc nhằn trong cuộc sống là nỗi nhớ thương da diết về người phụ nữ họ phải bỏ lại phía sau. Cuộc sống lúc bấy giờ quả là một địa ngục, nhưng chính vào thời gian này họ đã phát triển lên một điệu nhảy mang dáng dấp của tầng lớp mình. Đó là điệu Tango. Tiếng than van, rền rĩ của Tango, như người ta nói, kể lể nhiều hơn là chỉ những mối tình không thành. Nó nói về sự bất hạnh, về những số phận bị nhấn chìm trong đau khổ. Tangora – đó là âm nhạc của niềm đau khổ..

Điệu Tango phát triển trong hòan cảnh ấy, mang trong mình sự ám ảnh, khao khát một tình yêu. Giai điệu của Tango là cảm xúc bị dồn nén, là ham muốn giải thoát trong sự ngột ngạt, u uất của cuộc sống cùng khổ hàng ngày. Trong nền nhạc 4/4, với những nhịp nhanh chậm xen nhau, điệu nhảy Tango là thể hiện của đôi tình nhân hoàn toàn chìm đắm trong sự say mê, xúc cảm và đầy ước muốn.
Ngày nay, cùng với cuộc sống, tango đang hồi sinh. Daniel Melingo, một nhạc công Tango trẻ nói rằng “Trong lịch sử của Tango, bạn cảm thấy nó đã kết thúc. Nhưng người ta vẫn nhắc về tango như thể nói về một thời tuổi trẻ của họ”. Chính tình cảm ấy đã tạo nên những luyến tiếc quá khứ của tango, làm khơi dậy phong cách mới trong vũ điệu, âm nhạc và bài hát. Những phong cách mới sáng tạo ra nhiều biến thể của Tango, cùng tồn tại. Ngoài Tango Argentina còn có Tango America, Tango Gaucho… và International Tango: thể loại Tango dùng trong các dịp thi đấu Tango trên thế giới. Với giai điệu mềm mại hơn, Tango là điệu nhảy được nhiều người say mê, và khác với hoàn cảnh khi ra đời, Tango ngày nay thường được xem là điệu nhảy thể hiện sự sang trọng. Và hơn cả một điệu nhảy, nó còn được coi là văn hóa.
Như Adriana Varela, nữ ca sĩ nhạc tango nổi tiếng từng nói”Nghề của tôi là thể hiện những vần thơ của Buenos Aires trong nhạc điệu và truyền tải tới mảnh đất của tôi”. Tango mang đến cho ta cảm nhận về vùng đất này nhiều hơn là những nguyên tắc âm nhạc. Đầu thế kỷ 20, Borges viết, “nếu như không có những đêm Buenos Aires thì có lẽ đã không có tango”. Không bao lâu sau Borge, giới trí thức phong lưu, mà giờ đây đã trở nên khác biệt hẳn so với tầng lớp lao động bắt đầu viết lời cho Tango. Vì những ảnh hưởng của họ, Tango trở nên lãng mạn hơn, hoài cổ hơn và là một ký ức ngọt ngào về tuổi thanh xuân trong một xã hội bình dị không bao giờ tồn tại. Như một tình yêu không đau khổ, không bao giờ có thật trên đời, phải không tango lover…
nguồn: http://www.tathy.com/thanglong/showthread.php?p=356725#post356725
